Báo động tình trạng vi phạm pháp luật về an toàn lao động

.

Gửi bài viết qua email Gửi Email bài này
In bài viết In bài này
Xem với cỡ chữ :

 Bảo đảm an toàn, vệ sinh trong lao động là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật quy định. Nhưng theo phản ánh của bạn đọc, hiện nay, hàng triệu người lao động đang phải làm việc trong điều kiện thiếu an toàn, thừa rủi ro, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai nạn.

img 4436-2140

Ảnh minh họa

Phần 1: Vi phạm phổ biến, hậu quả khôn lường

Cứ mỗi ngày qua đi, cả nước lại có ít nhất 20 công nhân bị tai nạn lao động (TNLĐ), trong đó ít nhất một người tử vong. Tình trạng vi phạm pháp luật về an toàn lao động (ATLĐ) vẫn diễn ra phổ biến trên các công trường, hầm lò, mỏ khai thác khoáng sản, các cơ sở sản xuất, chế biến… Thế nhưng, rất nhiều doanh nghiệp kể từ khi thành lập đến nay, chưa từng được kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động hoặc bị xử phạt do vi phạm. 

Hậu quả nặng nề, hệ lụy lâu dài

Chị Trần Thị Biên, sinh năm 1986, ở xã Liên Bạt (Ứng Hòa, Hà Nội) làm công nhân cho một công ty xi-măng trên địa bàn huyện Ứng Hòa từ tháng 5-2009, đến tháng 7-2013 thì bị TNLĐ. Chị Biên bị gãy xương đùi, chấn động não, rạn mắt cá chân, phải nằm viện điều trị nửa tháng với số tiền viện phí hơn 15 triệu đồng. Không được hưởng bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể, chị phải tự chi trả toàn bộ tiền viện phí, chưa kể tiền ăn uống, thuốc men, đi lại, tái khám. Mất một tháng rưỡi, cái chân gãy của chị Biên mới được tháo bột. Thêm bốn tháng ngồi nhà vì không thể đi lại bình thường. Kết quả giám định thương tật, chị bị suy giảm khả năng lao động 35%. Con nhỏ, đứa năm tuổi, đứa ba tuổi, chồng không có việc làm ổn định, khiến cuộc sống gia đình từ khi chị bị tai nạn, trở nên vô cùng khó khăn. Do sức khỏe giảm sút, chị Biên không thể tiếp tục công việc cũ, đành phải tìm việc làm mới nhẹ nhàng hơn, nhưng thu nhập cũng vì thế ít đi. Đến bây giờ, chị Biên vẫn thường xuyên bị đau đầu, có khi choáng váng, chỉ chực ngã; hai chân thường xuyên đau nhức. Dù vậy, so với nhiều trường hợp bị TNLĐ khác, chị Biên vẫn có chút may mắn hơn.

Hơn một tháng nay, anh T.V (xin được giấu tên) ở phường Thành Công (Ba Đình, Hà Nội) phải trở lại Bệnh viện Bạch Mai điều trị do vết thương tái phát, bệnh trở nặng. Anh là công nhân cơ điện, đầu năm 2015 bị TNLĐ giập não, vỡ hộp sọ, gãy tay trái, giập đầu gối. Gần hai tháng nằm bất động, hôn mê sâu, các bác sĩ phải mở khí quản cho anh thở máy. Qua cơn thập tử nhất sinh thì anh bị liệt nửa người. Kết quả giám định, anh bị mất sức lao động 75%. Kiên trì điều trị, phục hồi chức năng nhưng tới bây giờ, tay chân anh vẫn rất yếu, không thể làm được việc gì. Thỉnh thoảng, anh lại bị lên cơn co giật, phải vào viện cấp cứu. Đang là trụ cột gia đình, anh trở thành người không thể tự chăm sóc cho mình, mọi gánh nặng lo toan từ cái ăn, cái mặc, đến việc học hành của các con, việc chăm sóc gia đình đều trút lên vai người vợ.

Anh Đinh Văn Hùng, công nhân Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam, bị TNLĐ năm 2011, mất sức lao động 67%, đã chết hồi tháng 11-2014 do vết thương tái phát. Anh Nguyễn Đăng Du, công nhân Xí nghiệp Thủy lợi Ứng Hòa (Hà Nội), bị TNLĐ cụt hai chân, mất sức lao động 94%. Chị Tạ Thị Dung, ở xã Trung Mầu (Gia Lâm, Hà Nội), công nhân Công ty cổ phần Kim khí Thăng Long, bị tai nạn giập nát bàn tay phải, một mình nuôi con nhỏ, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Anh Nguyễn Công Tùng, ở xã Đại Áng (Thanh Trì, Hà Nội), công nhân Công ty cổ phần Kim khí Hà Nội, bị TNLĐ hỏng một bên mắt, vợ không có việc làm, trong khi hai con còn nhỏ dại… Những cái tên nạn nhân TNLĐ cứ ngày một nối dài thêm trong danh sách thống kê của Liên đoàn Lao động TP Hà Nội.

Từng là lao động chính trong gia đình, sau TNLĐ, người may mắn thoát chết thì cũng mang dị tật, thậm chí tàn phế, không còn khả năng lao động, trở thành gánh nặng cho gia đình. Vì thế, TNLĐ xảy ra không chỉ cướp đi sinh mạng, sức khỏe của người lao động, mà gia đình của họ cũng kiệt quệ do mất người thân hoặc mất đi trụ cột kinh tế gia đình, cuộc sống bị đảo lộn, thu nhập giảm sút, nhiều trường hợp rơi vào tình trạng đói nghèo.

Không chỉ gây tổn thất về con người, sức khỏe, kinh tế, ảnh hưởng đời sống mỗi gia đình người bị nạn, TNLĐ còn để lại hậu quả lớn cho xã hội. Tính sơ bộ từ số liệu báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thiệt hại về vật chất do TNLĐ xảy ra năm 2015 đã bao gồm: chi phí tiền thuốc, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thương... là 153,97 tỷ đồng; thiệt hại về tài sản là 21,96 tỷ đồng; tổng số ngày nghỉ do TNLĐ là 99.679 ngày. Cũng theo thống kê, có đến 70% người lao động bị mất việc làm sau TNLĐ do không được tái ký hợp đồng hoặc do điều trị quá thời gian quy định, sức khỏe suy giảm. Ngoài ra, những hệ lụy xã hội đối với người thân của người bị nạn đang là gánh nặng rất lớn cho ngân sách nhà nước và cho toàn xã hội.

Hậu quả do TNLĐ gây ra không kém gì hậu quả do tai nạn giao thông, để lại hệ lụy lâu dài cho gia đình và xã hội, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển kinh tế, xã hội. Nhưng cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện về thực trạng này để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách trong tương lai.

Chị Trần Thị Biên, sinh năm 1986, ở xã Liên Bạt (Ứng Hòa, Hà Nội) làm công nhân cho một công ty xi-măng trên địa bàn huyện Ứng Hòa từ tháng 5-2009, đến tháng 7-2013 thì bị TNLĐ. Chị Biên bị gãy xương đùi, chấn động não, rạn mắt cá chân, phải nằm viện điều trị nửa tháng với số tiền viện phí hơn 15 triệu đồng. Không được hưởng bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể, chị phải tự chi trả toàn bộ tiền viện phí, chưa kể tiền ăn uống, thuốc men, đi lại, tái khám. Mất một tháng rưỡi, cái chân gãy của chị Biên mới được tháo bột. Thêm bốn tháng ngồi nhà vì không thể đi lại bình thường. Kết quả giám định thương tật, chị bị suy giảm khả năng lao động 35%. Con nhỏ, đứa năm tuổi, đứa ba tuổi, chồng không có việc làm ổn định, khiến cuộc sống gia đình từ khi chị bị tai nạn, trở nên vô cùng khó khăn. Do sức khỏe giảm sút, chị Biên không thể tiếp tục công việc cũ, đành phải tìm việc làm mới nhẹ nhàng hơn, nhưng thu nhập cũng vì thế ít đi. Đến bây giờ, chị Biên vẫn thường xuyên bị đau đầu, có khi choáng váng, chỉ chực ngã; hai chân thường xuyên đau nhức. Dù vậy, so với nhiều trường hợp bị TNLĐ khác, chị Biên vẫn có chút may mắn hơn.

Hơn một tháng nay, anh T.V (xin được giấu tên) ở phường Thành Công (Ba Đình, Hà Nội) phải trở lại Bệnh viện Bạch Mai điều trị do vết thương tái phát, bệnh trở nặng. Anh là công nhân cơ điện, đầu năm 2015 bị TNLĐ giập não, vỡ hộp sọ, gãy tay trái, giập đầu gối. Gần hai tháng nằm bất động, hôn mê sâu, các bác sĩ phải mở khí quản cho anh thở máy. Qua cơn thập tử nhất sinh thì anh bị liệt nửa người. Kết quả giám định, anh bị mất sức lao động 75%. Kiên trì điều trị, phục hồi chức năng nhưng tới bây giờ, tay chân anh vẫn rất yếu, không thể làm được việc gì. Thỉnh thoảng, anh lại bị lên cơn co giật, phải vào viện cấp cứu. Đang là trụ cột gia đình, anh trở thành người không thể tự chăm sóc cho mình, mọi gánh nặng lo toan từ cái ăn, cái mặc, đến việc học hành của các con, việc chăm sóc gia đình đều trút lên vai người vợ.

Anh Đinh Văn Hùng, công nhân Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam, bị TNLĐ năm 2011, mất sức lao động 67%, đã chết hồi tháng 11-2014 do vết thương tái phát. Anh Nguyễn Đăng Du, công nhân Xí nghiệp Thủy lợi Ứng Hòa (Hà Nội), bị TNLĐ cụt hai chân, mất sức lao động 94%. Chị Tạ Thị Dung, ở xã Trung Mầu (Gia Lâm, Hà Nội), công nhân Công ty cổ phần Kim khí Thăng Long, bị tai nạn giập nát bàn tay phải, một mình nuôi con nhỏ, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Anh Nguyễn Công Tùng, ở xã Đại Áng (Thanh Trì, Hà Nội), công nhân Công ty cổ phần Kim khí Hà Nội, bị TNLĐ hỏng một bên mắt, vợ không có việc làm, trong khi hai con còn nhỏ dại… Những cái tên nạn nhân TNLĐ cứ ngày một nối dài thêm trong danh sách thống kê của Liên đoàn Lao động TP Hà Nội.

Từng là lao động chính trong gia đình, sau TNLĐ, người may mắn thoát chết thì cũng mang dị tật, thậm chí tàn phế, không còn khả năng lao động, trở thành gánh nặng cho gia đình. Vì thế, TNLĐ xảy ra không chỉ cướp đi sinh mạng, sức khỏe của người lao động, mà gia đình của họ cũng kiệt quệ do mất người thân hoặc mất đi trụ cột kinh tế gia đình, cuộc sống bị đảo lộn, thu nhập giảm sút, nhiều trường hợp rơi vào tình trạng đói nghèo.

Không chỉ gây tổn thất về con người, sức khỏe, kinh tế, ảnh hưởng đời sống mỗi gia đình người bị nạn, TNLĐ còn để lại hậu quả lớn cho xã hội. Tính sơ bộ từ số liệu báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thiệt hại về vật chất do TNLĐ xảy ra năm 2015 đã bao gồm: chi phí tiền thuốc, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thương... là 153,97 tỷ đồng; thiệt hại về tài sản là 21,96 tỷ đồng; tổng số ngày nghỉ do TNLĐ là 99.679 ngày. Cũng theo thống kê, có đến 70% người lao động bị mất việc làm sau TNLĐ do không được tái ký hợp đồng hoặc do điều trị quá thời gian quy định, sức khỏe suy giảm. Ngoài ra, những hệ lụy xã hội đối với người thân của người bị nạn đang là gánh nặng rất lớn cho ngân sách nhà nước và cho toàn xã hội.

Hậu quả do TNLĐ gây ra không kém gì hậu quả do tai nạn giao thông, để lại hệ lụy lâu dài cho gia đình và xã hội, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển kinh tế, xã hội. Nhưng cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện về thực trạng này để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách trong tương lai.

Tai nạn lao động không ngừng tăng

Thống kê của ngành lao động - thương binh và xã hội (LĐ-TB và XH) cho thấy, trong những năm gần đây, tình hình TNLĐ luôn ở mức báo động, số vụ TNLĐ và số người chết không ngừng tăng hằng năm. Nhiều vụ TNLĐ xảy ra gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm nhiều người chết và bị thương, như: Vụ tai nạn xảy ra vào 23 giờ 30 phút ngày 15-1-2014 do cháy lò than làm sáu người chết và một người bị thương nặng tại Công ty TNHH MTV than Đồng Vông, phường Trưng Vương (TP Uông Bí, Quảng Ninh); vụ tai nạn do sập giàn giáo tại khu vực thi công đúc giếng chìm của Công ty Samsung C&T, tại dự án Formosa, Khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh), vào lúc 19 giờ 50 phút ngày 25-3-2015, làm 13 người chết, 29 người bị thương; vụ tai nạn do sập mỏ đá tại xã Yên Lâm (Yên Định, Thanh Hóa) ngày 21-1-2016, làm tám người chết. Trong số sáu vụ TNLĐ nghiêm trọng gây nhiều thương vong nhất năm 2015, đã có tới bốn vụ xảy ra tại các công trường xây dựng.
Đáng chú ý, số vụ TNLĐ và số người chết vì TNLĐ theo thống kê của ngành LĐ-TB và XH và ngành Y tế đã có sự chênh lệch quá lớn. Thống kê của ngành LĐ-TB và XH cho thấy, mỗi năm cả nước có khoảng hơn 600 người chết vì TNLĐ, nhưng theo thống kê của một vài bệnh viện lớn thì trong một năm, số người bị TNLĐ đưa đến cấp cứu và chết tại bệnh viện đã lên tới con số gần 1.800 người. Ngoài ra, khi so sánh, đối chiếu thì thấy số liệu về những người được hưởng chế độ BHXH về TNLĐ phát sinh mới hằng năm thường cao hơn nhiều số liệu do Bộ LĐ-TB và XH tổng hợp từ báo cáo của các địa phương trong cả nước.
Theo lý giải của ngành chức năng, số biên bản điều tra TNLĐ các cơ quan này nhận được chỉ chiếm 38% tổng số vụ TNLĐ chết người. Do sự phối hợp chưa tốt trong việc giải quyết các vụ TNLĐ chết người theo quy định, cho nên tiến độ điều tra các vụ TNLĐ chết người vẫn còn rất chậm so với quy định. Một số doanh nghiệp còn có hành vi che giấu, không khai báo với các cơ quan chức năng khi có TNLĐ xảy ra, kể cả tai nạn chết người. Theo số liệu báo cáo trong năm 2015, chỉ có 18.375 trong số 265.009 (chiếm 6,9%) doanh nghiệp có báo cáo về tình hình TNLĐ. Hơn 90% doanh nghiệp không có báo cáo về tình hình TNLĐ, hầu hết là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy, việc tổng hợp, đánh giá tình hình TNLĐ trên toàn quốc còn gặp nhiều khó khăn và bất cập.

Nguyên nhân chính là do chủ quan

Hà Nội là một trong 10 địa phương xảy ra nhiều vụ TNLĐ nhất trong thời gian qua. Qua công tác điều tra TNLĐ, Trưởng phòng An toàn lao động (Sở LĐ-TB và XH Hà Nội) Bạch Quốc Việt cho biết: Đối tượng bị TNLĐ nhiều nhất là những lao động thời vụ, chưa qua đào tạo. Mới hôm qua họ là lao động nông nghiệp, hôm nay nhàn rỗi, ra thành phố xin vào các công trường, nhà xưởng làm thuê, kiến thức về ATLĐ không có; trong khi đó, người sử dụng lao động lại thường bỏ qua công tác huấn luyện ATLĐ. Bản thân người lao động cũng không ý thức được nguy cơ gây tai nạn, cứ vô tư vi phạm quy định, quy trình ATLĐ.

Phân tích từ các biên bản điều tra TNLĐ, Phó Cục trưởng An toàn lao động (Bộ LĐ - TB và XH) Bùi Đức Nhưỡng cho biết, nguyên nhân gây TNLĐ từ phía người sử dụng lao động chiếm tỷ lệ rất cao (năm 2014 chiếm 72,7%; năm 2015 chiếm 52,8%), với các vi phạm phổ biến như: không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn, thiết bị không bảo đảm ATLĐ, không huấn luyện ATLĐ cho người lao động, không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động. Bên cạnh đó, có một phần nguyên nhân từ phía người lao động (năm 2014 chiếm 13,4%, năm 2015 chiếm 18,9%), với các vi phạm phổ biến: người lao động vi phạm quy trình, quy chuẩn ATLĐ, không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân.

Kết quả khảo sát của Liên đoàn Lao động TP Hà Nội cũng cho thấy, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn chưa thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về ATLĐ, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong các lĩnh vực: xây dựng, điện, giao thông và trong khu công nghiệp. Số lượng người lao động được huấn luyện về ATLĐ đạt tỷ lệ thấp so với tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động và còn nhiều người lao động chưa được huấn luyện về ATLĐ.

Thời gian qua, dư luận bạn đọc vẫn chưa nguôi bức xúc về vụ TNLĐ do rơi vận thăng lồng làm ba công nhân chết, xảy ra tại công trình xây dựng Văn phòng làm việc, Trung tâm thương mại và nhà ở hỗn hợp, địa chỉ số 52 đường Lĩnh Nam, phường Mai Động (Hoàng Mai, Hà Nội), vào sáng 4-12-2015. Theo phản ánh của người dân, trước đó công trình này đã tạm dừng thi công hơn một năm, nhưng máy móc không được kiểm định trước khi đưa vào sử dụng. Mới đây, ngày 5-8-2016, Đoàn điều tra TNLĐ thành phố Hà Nội đã có kết luận chính thức về vụ TNLĐ này. Nguyên nhân gây tai nạn được xác định là: Vận thăng lồng SC200/200 do Công ty CP Thiết bị và Đầu tư xây dựng Thăng Long quản lý, vận hành tại công trình không có sổ theo dõi, bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ, thay thế các bộ phận đủ nội dung hạng mục công việc theo quy định. Người vận hành (nạn nhân Lã Anh Tuấn) máy vận thăng khi xảy ra tai nạn chưa được huấn luyện cơ bản về nghiệp vụ và ATLĐ theo quy định. Như vậy, lỗi của người sử dụng lao động là không thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý sử dụng thiết bị vận thăng lồng (bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ); sử dụng người lao động vận hành máy, thiết bị khi chưa được huấn luyện và cấp chứng chỉ huấn luyện ATLĐ theo quy định.

Sự coi thường điều kiện an toàn trong lao động tất yếu dẫn đến hậu quả là TNLĐ. Tuy nhiên, những nguy cơ tiềm ẩn về TNLĐ vẫn đang hiện hữu ở khắp mọi nơi trên các công trường xây dựng, hầm lò, mỏ khai thác, trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến.

(Còn nữa)

Năm 2014, cả nước xảy ra 6.709 vụ TNLĐ làm 6.941 người bị nạn, trong đó có 592 vụ tai nạn làm chết 630 người; Năm 2015 xảy ra 7.620 vụ TNLĐ làm 7.785 người bị nạn, trong đó có 629 vụ tai nạn làm chết 666 người; đều tăng về số vụ, số nạn nhân, số vụ có người chết, số người chết, số người bị thương nặng, số lao động nữ so năm 2014. Sáu tháng đầu năm 2016, cả nước xảy ra khoảng 3.000 vụ TNLĐ làm khoảng 3.100 người bị nạn, làm chết hơn 200 người.

(Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)

Phần 2: Nhiều bất cập trong công tác quản lý, xử lý vi phạm

Trong khi mỗi năm có tới hơn 500 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm hơn 600 người chết, nhưng số vụ TNLĐ bị khởi tố rất ít, chỉ chiếm 2% tổng số vụ tai nạn. Trung bình mỗi năm chỉ có khoảng 0,22% số doanh nghiệp đang hoạt động được thanh tra pháp luật về lao động và an toàn, vệ sinh lao động.

Bất cập trong công tác tổ chức, quản lý

Theo quy định của Bộ luật Lao động thì chức năng thanh tra nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động (AT,VSLĐ) do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ - TB và XH) và sở trực thuộc tại các địa phương thực hiện. Tìm hiểu, chúng tôi được biết, hiện nay Bộ LĐ-TB và XH có một phòng thanh tra AT, VSLĐ trực thuộc Thanh tra Bộ. Ở các Sở LĐ-TB và XH, mỗi đơn vị chỉ có từ một đến ba thanh tra viên AT,VSLĐ nằm trong Thanh tra Sở, thậm chí có địa phương chỉ có một hoặc hai thanh tra viên, lại phải kiêm nhiệm các công tác khác như giải quyết khiếu nại, tố cáo, thanh tra chính sách xã hội. Tính chung cả nước, hiện chỉ có khoảng 150 thanh tra viên AT,VSLĐ. Với cơ cấu tổ chức, số lượng thanh tra viên như vậy mà đối tượng phải thanh tra là hàng trăm nghìn doanh nghiệp, chưa kể các cơ sở sản xuất trong làng nghề, trong lĩnh vực nông nghiệp thì đúng là bất cập.

Do đối tượng thanh tra quá lớn, lực lượng thanh tra viên lại quá mỏng, cho nên mỗi năm, thanh tra toàn ngành LĐ-TB và XH chỉ tiến hành thanh tra pháp luật lao động và AT,VSLĐ được khoảng 5.600/525.000 doanh nghiệp (chiếm 0,22% tổng số doanh nghiệp). Có những doanh nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động hơn 10 năm nhưng chưa một lần có đoàn nào đến thanh tra, kiểm tra về công tác AT,VSLĐ. Tình trạng doanh nghiệp hoạt động thường xuyên vi phạm quy định về AT,VSLĐ, nhưng chưa lần nào bị xử phạt vi phạm; nhiều vụ TNLĐ, người sử dụng lao động tự thỏa thuận với gia đình người bị nạn, giấu giếm thông tin, không khai báo, mà cơ quan chức năng hoàn toàn không biết khá phổ biến.

Cho đến nay, cả nước vẫn chưa có trường hoặc ngành học đào tạo thanh tra viên AT,VSLĐ. Các thanh tra viên AT,VSLĐ hiện thời chủ yếu được tuyển chọn từ những người đã tốt nghiệp các trường đại học kỹ thuật và đại học y. Trình độ chuyên môn, kỹ năng thanh tra của thanh tra viên còn nhiều hạn chế, đã ảnh hưởng không nhỏ hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm quy định về AT,VSLĐ diễn ra tràn lan, dù các văn bản pháp luật về lĩnh vực an toàn lao động (ATLĐ) hiện nay đã khá đầy đủ, nhất là từ khi Luật AT, VSLĐ có hiệu lực thi hành.

Điều tra, xử lý chậm, chưa đủ tính răn đe

Vụ TNLĐ nghiêm trọng do rơi thang vận làm ba công nhân tử vong tại công trình xây dựng tòa CT10, khu đô thị Đại Thanh, xã Tả Thanh Oai (Thanh Trì, Hà Nội) xảy ra vào sáng 20-5-2013, đến nay đã hơn ba năm nhưng các cơ quan chức năng vẫn chưa có kết luận chính thức. Trả lời câu hỏi vì sao có sự chậm trễ này, Phó chánh Thanh tra Sở LĐ-TB và XH Hà Nội Phan Văn Mậu cho biết: “Cho đến nay, Đoàn điều tra tai nạn lao động TP Hà Nội vẫn chưa nhận được quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì (Hà Nội) về vụ TNLĐ xảy ra tại công trình xây dựng tòa CT10, khu đô thị Đại Thanh, để tiến hành các công việc tiếp theo thuộc phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình”. Vụ TNLĐ do rơi vận thăng lồng làm ba công nhân chết, xảy ra từ ngày 4-12-2015, tại công trình xây dựng Văn phòng làm việc, Trung tâm thương mại và nhà ở hỗn hợp, địa chỉ số 52 đường Lĩnh Nam, phường Mai Động (Hoàng Mai, Hà Nội), nhưng phải đến tám tháng sau, ngày 5-8-2016, các cơ quan chức năng mới có kết luận chính thức.

Công tác điều tra TNLĐ không chỉ chậm trễ, kéo dài, mà việc xử lý các vụ TNLĐ cũng chậm, chưa đúng tính chất, mức độ vi phạm. Trong năm vụ TNLĐ bị khởi tố năm 2015 chỉ có một vụ được đưa ra xét xử. Thành phố Hà Nội nhiều năm qua chưa khởi tố được vụ TNLĐ nào.

Dư luận đã nhiều lần đặt câu hỏi: Vì sao số vụ TNLĐ nghiêm trọng gây chết người nhiều như vậy mà số vụ, số người sử dụng lao động bị truy cứu trách nhiệm hình sự lại quá ít, trong khi nguyên nhân chính của các vụ TNLĐ nghiêm trọng đều bắt nguồn từ sự coi thường pháp luật về AT,VSLĐ của các chủ doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động? Trong khi ai cũng biết việc điều tra bảo đảm đúng thời hạn, xử lý nghiêm, dứt điểm các vụ TNLĐ không chỉ để kịp thời giải quyết chế độ cho người bị nạn, mà còn góp phần quan trọng ngăn chặn tình trạng vi phạm AT, VSLĐ.

Đề cao các giải pháp phòng ngừa

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã đề cập vấn đề không tai nạn trong lao động. Ở Phần Lan, từ cuối năm 2003 đã khởi động một diễn đàn “không tai nạn” nhằm giới thiệu những bài học thành công trong việc phòng tránh TNLĐ. Nhật Bản cũng từng là quốc gia có số người bị TNLĐ rất lớn. Nhưng thực trạng này đã thay đổi từ khi Chính phủ Nhật Bản phát động phong trào “không tai nạn” vào năm 1973. Theo một nghiên cứu của Nhật Bản, 93,8% vụ TNLĐ xảy ra do hành vi không an toàn; 87,7% số vụ TNLĐ xảy ra vì điều kiện không an toàn; 82,6% số vụ TNLĐ xảy ra do cả hai nguyên nhân trên. Như vậy, TNLĐ có thể được giảm thiểu ở mức thấp nhất nếu kiểm soát tốt các yếu tố chủ quan từ con người như hành vi và điều kiện làm việc.

Dựa trên kết quả phân tích này, Trưởng phòng An toàn lao động (Sở LĐ-TB và XH thành phố Hà Nội) Bạch Quốc Việt cho rằng: Việc đầu tiên là phải nâng cao ý thức của người sử dụng lao động và người lao động trong việc tuân thủ các quy định, quy chuẩn về AT,VSLĐ. Công tác huấn luyện AT,VSLĐ cho người sử dụng lao động và người lao động phải làm thường xuyên, nghiêm túc, thực chất để họ nắm vững các quy định về AT,VSLĐ.

Công ty xi-măng Nghi Sơn (Thanh Hóa) là một đơn vị liên doanh với Nhật Bản. Bên cạnh việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, thời gian qua công ty đã áp dụng hiệu quả phương pháp KY của Nhật Bản để phòng ngừa TNLĐ. Phương pháp KY nghĩa là “dự đoán các tình huống nguy hiểm” được phát triển và phổ biến bởi Hiệp hội An toàn và vệ sinh lao động công nghiệp Nhật Bản. Phương pháp này đã góp phần quan trọng làm giảm tỷ lệ TNLĐ ở Nhật Bản từ 6.712 người chết (năm 1961) xuống còn 1.514 người chết (năm 2005). Điều đáng chú ý ở phương pháp KY là mỗi khi thực hiện bất kỳ công việc gì, các nhóm làm việc đều phải thực hiện một bảng phân tích KY. Đầu tiên, cả nhóm họp lại để cùng nhau phân tích các tình huống nguy hiểm tiềm tàng, tìm ra nguyên nhân và sau đó đề xuất giải pháp. Tất cả các ý kiến dù nhỏ nhất đều được viết vào một bảng KY và đọc to cho mọi người cùng nghe. Tờ giấy này sau đó được treo ngay tại vị trí làm việc để nhắc nhở.

Việc áp dụng thành công phương pháp KY của Nhật Bản tại Công ty xi-măng Nghi Sơn rất đáng để các doanh nghiệp học hỏi, ứng dụng. Bởi chủ quan chính là nguyên nhân lớn nhất dẫn tới TNLĐ. Chỉ khi nào việc tuân thủ các quy định về bảo đảm AT,VSLĐ trở thành thói quen, kỹ năng làm việc, hành vi văn hóa trong doanh nghiệp thì khi đó công tác an toàn lao động mới được bảo đảm.

Theo Phó Cục trưởng An toàn lao động (Bộ LĐ-TB và XH) Bùi Đức Nhưỡng, trong những năm tới, tình hình TNLĐ có xu hướng tăng mạnh dưới tác động của các nhân tố: Sự phát triển mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ với trình độ công nghệ còn lạc hậu và không chú ý đến ATLĐ, vệ sinh môi trường. Việc nhập khẩu và đưa vào sử dụng các máy, công nghệ, vật liệu mới, ngoài những mặt tích cực, còn tiềm ẩn những nguy cơ về ATLĐ. Lực lượng lao động tăng nhanh cùng với sự chuyển dịch của một lượng lớn lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp với trình độ tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp làm tăng nguy cơ xảy ra TNLĐ.

Để giảm thiểu TNLĐ, theo Phó Trưởng ban Pháp luật (Liên đoàn Lao động TP Hà Nội) Tạ Văn Dưỡng, ngoài ý thức tự bảo vệ, chấp hành kỷ luật, quy trình lao động của người lao động, việc tuân thủ quy định pháp luật AT,VSLĐ của người sử dụng lao động thì vẫn rất cần sự vào cuộc của các ngành, các cấp, sự phối hợp chặt chẽ trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm các quy định pháp luật về AT,VSLĐ. Điều tra xử lý kịp thời, nghiêm minh các đơn vị, cá nhân, nhất là người sử dụng người lao động để xảy ra TNLĐ.

Vấn đề bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động cần được ưu tiên hàng đầu. Điều quan trọng là, các cơ quan chức năng cần xây dựng chiến lược phòng ngừa một cách hiệu quả, lấy văn hóa phòng ngừa là quan trọng, chứ không phải chạy theo khắc phục hậu quả.

Thời gian qua, số vụ TNLĐ nghiêm trọng bị đề nghị khởi tố chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ từ 3 đến 4%, và chỉ có 2% số vụ đưa ra xét xử. Đơn cử, năm 2015, cả nước xảy ra 7.620 vụ TNLĐ làm 7.785 người bị nạn, trong đó có 629 vụ tai nạn làm chết 666 người nhưng chỉ có năm vụ bị đề nghị khởi tố, trong đó có một vụ đã xét xử.

Anh Thơ
Nguồn:  nhandan.com.vn các ngày 24, 25/8/2016